SỞ Y TẾ KHÁNH HÒA
BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC NINH HÒA
--------------
NHỮNG ĐIỀU CẦN NHỚ TRƯỚC KHI ĐI PHẪU THUẬT
(Ban hành kèm theo Quyết định số…/QD-BVNH ngày…tháng…năm 2017)
• Người bệnh không được ăn, uống 6 giờ trước khi mổ
• Người bệnh có thể đánh răng trong thời gian này, nhưng không được nuốt nước
• Tẩy trắng và rửa sạch sơn móng tay, móng chân trước khi tới bệnh viện
• Nếu người bệnh để tóc dài, hãy cột gọn tóc lại
• Cố gắng đi tiểu trước khi vào phòng mổ
• Sau khi uống thuốc tiền mê, đừng tự bước xuống giường nếu không có sự trợ giúp, người bệnh có thể không tỉnh táo và có nguy cơ bị chấn thương.
Vệ sinh trước khi mổ:
Vệ sinh sạch sẽ giảm thiểu nguy cơ nhiễm trùng sau mổ. Chúng tôi yêu cầu người bệnh tắm 2 lần trước khi phẫu thuật (đêm trước và trong ngày mổ) bằng loại xà phòng khử trùng. Kỹ thuật tắm: sử dụng tay xát xà phòng và tập trung vào các khu vực như cùi chỏ, dưới cánh tay, đầu gối và bàn chân. Xả sạch và lau khô người bằng khăn sạch. Bạn không cần gội đầu nếu như đầu sạch, trừ khi bạn phải phẫu thuật đầu hay cổ. Nếu người bệnh cần phải vệ sinh lông, việc này sẽ được nhân viên điều dưỡng hướng dẫn, ngay trước khi phẫu thuật.
Tư trang của người bệnh phẫu thuật:
Tốt nhất bạn nên gởi vật dụng quý giá của mình cho người thân. Bệnh viện sẽ không chịu trách nhiệm về những vật dụng quí và tiền bạc của bạn.
Thời gian thực hiện phẫu thuật:
Điều dưỡng sẽ thông báo cho người bệnh thời gian thực hiện phẫu thuật. Để chuẩn bị tốt cho cuộc phẫu thuật, người bệnh sẽ được đưa đến phòng mổ từ 30 đến 45 phút trước khi bắt đầu.
Đến phòng mổ:
Điều dưỡng sẽ giúp người bệnh lên xe đẩy, sẽ kiểm tra lại thông tin lần cuối và chuyển người bệnh đến phòng mổ. Hai thành viên gia đình được phép đi cùng người bệnh đến cửa phòng mổ nhưng không được vào bên trong do đây là khu vực vô trùng.
Nếu cần được gây tê hay gây mê, người bệnh sẽ được truyền dịch qua tĩnh mạch để thuốc ngấm nhanh hơn.
Sau khi mổ:
Người bệnh sẽ được đưa về phòng hồi sức. Tại đây người bệnh được theo dõi cho đến khi tỉnh lại và hồi phục sức khỏe để chuyển về phòng bệnh.
Tuỳ thuộc vào ca mổ và thể trạng mà người bệnh có thể được đưa trở về phòng bệnh hay Phòng hồi tỉnh và hồi sức sau mổ.
Phòng hồi tỉnh và hồi sức sau mổ
Nhiều phẫu thuật/ điều trị theo chương trình có bao gồm chăm sóc tại phòng hồi tỉnh, hoặc một vài bệnh nhân sẽ được chỉ định theo dõi thêm và hồi sức tích cực sau khi mổ tại đây. Đây là khu vực giới hạn và giờ thăm viếng cũng bị hạn chế.
Trở về phòng bệnh:
Một vài bệnh sau phẫu thuật do chỉ gây tê đơn thuần bạn sẽ được về phòng bệnh vài giờ sau mổ. ở đó điều dưỡng sẽ theo dõi huyết áp, nhịp tim và nhiệt độ của người bệnh, đánh giá mức độ đau và kiểm tra các biến chứng.
Xin đừng cố gắng ra khỏi giường sau khi mổ mà không có sự trợ giúp – Hãy luôn gọi điều dưỡng vì người bệnh có thể bị choáng và có thể bị chấn thương.
Người bệnh có thể vẫn phải giữ lại đường ven nhằm giúp chúng tôi dễ dàng truyền dịch, tiêm thuốc, lấy máu…. Tất cả sẽ được điều dưỡng giải thích rõ.
SỞ Y TẾ KHÁNH HÒA
BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC NINH HÒA
----------------
THẾ NÀO LÀ GÂY TÊ, GÂY MÊ & TIỀN MÊ LÀ GÌ?
(Ban hành kèm theo Quyết định số…/QD-BVNH ngày…tháng… năm…2017)
Bệnh nhân mỗi khi phải mổ thường rất sợ đau và thường hay đưa ra câu hỏi: “Thế mổ có đau không?”. Để hiểu rõ bác sĩ đã làm gì để giúp bệnh nhân không đau trong khi mổ, chúng ta tìm hiểu thế nào là gây tê, thế nào là gây mê.
Gây tê hay gây mê đều làm cho cảm giác đau không còn nữa.
- Gây tê là làm giảm đau ở một chỗ hẹp hay một vùng.
- Gây mê là làm cho bệnh nhân mất tri giác toàn thân do thuốc mê tác dụng lên não bộ.
Tùy theo nhu cầu phẫu thuật đòi hỏi, vùng mổ lớn hay nhỏ, tình trạng sức khỏe của bệnh nhân, kết quả xét nghiệm như thế nào, cách thức phẫu thuật ra sao mà người ta chọn những cách thức gây tê, gây mê khác nhau. Thường thì Bác sĩ phẫu thuật và bác sĩ gây mê sẽ cùng bàn bạc chọn một phương thức thích hợp nhất để áp dụng cho việc gây tê hay mê. Bất cứ loại tê mê nào cũng đều có những nguy cơ, tuy dù ngày nay độ an toàn của tê mê đã được nâng lên rất cao. Nhưng trong một vài tình trạng sức khỏe nào đó, độ an toàn của gây mê vẫn bị ảnh hưởng. Vì thế, trước khi gây mê, người gây mê sẽ báo cho bệnh nhân biết những điều không tốt có thể xảy ra.
1. Gây tê
Gây tê làm mất cảm giác tại chỗ, làm tê một vùng nhỏ của cơ thể. Người ta dùng thuốc tê tiêm tại chổ và ức chế cảm giác đau đớn. Các trường hợp tiểu phẫu thuật đều được áp dụng tê tại chỗ. Vì tê tại chỗ nên bệnh nhân hoàn toàn tỉnh khi làm phẫu thuật. Tuy nhiên đôi khi bác sĩ có thể cho bệnh nhân tiền mê với một vài loại thuốc để bệnh nhân thư giản hoặc ngủ nhẹ.
- Gây tê tại chỗ là làm cho một vùng nhỏ không còn cảm giác đau. Gây tê tại chỗ áp dụng cho những vùng phẫu thuật nhỏ như một vết thương cạn, nhỏ, ngoài da, vết thương ở da đầu, vết thương ngón tay, ngón chân …
- Gây tê vùng là làm tê một vùng rộng hơn. Tê vùng là chích thuốc tê vào tủy sống hay ngoài màng cứng. Người ta chích thuốc tê vào tủy sống và những rễ thần kinh tương ứng. Tê vùng làm mất cảm giác một vùng lớn của cơ thể như bụng, lưng hay hai chân, tay.
2. Gây mê
Gây mê thì tác động trên não và làm mất cảm giác toàn thân. Người ta có thể chích thuốc qua tĩnh mạch hay cho bệnh nhân ngửi thuốc mê qua đường thở. Với gây mê, bệnh nhân sẽ không hay biết gì và không còn cảm thấy đau khi mổ. Với gây mê, bệnh nhân không biết cuộc mổ xảy ra thế nào và vào thời điểm nào.
3. Tiền mê là gì? Vì sao cần phải tiền mê?
Đó là dùng một loại an thần trước khi gây mê. Có thể uống hay chích. Cần tiền mê vì :
- Chống tiết: dùng để hạn chế tiết dịch ở họng, miệng và ở hệ hô hấp.
- Để chống lo lắng.
- Giảm hay ngừa đau. Thuốc giảm đau có thể dùng cho những ai bị đau trước khi phẫu thuật (và cả trong lúc phẫu thuật ).
- Giảm thể tích và dịch dạ dày để giảm nguy cơ hít dịch vào đường hô hấp. Có khi còn cho bệnh nhân uống thuốc giảm tiết acid hay trung hoà dịch dạ dày để giảm thiểu tổn hại nếu dịch dạ dày trào ngược lên cổ họng và bệnh nhân hít vào đường thở.
- Giảm buồn nôn, oẹ, mữa. Nôn mữa có thể xảy ra trong hay sau khi mổ.
- Kiểm soát chức năng cơ thể. Sự đáp ứng tự động của cơ thể với đau vì stress của phẫu thuật. Thuốc còn để giữ nhịp đập của tim, giữ cho huyết áp ổn định.
4. Vậy lựa chọn phương cách gì, dạng tê, mê nào cho cuộc phẫu thuật?
Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố :
1- Tùy theo sức khỏe hiện tại và trong quá khứ của bệnh nhân. Ví dụ bệnh nhân có thể bị tiểu đường, bị cường giáp, bị suy tim... Và ngay cả các thành viên trong gia đình bệnh nhân cũng được lưu ý đến để biết có ai bị dị ứng với thuốc mê nào không chẳng hạn.
2- Bệnh nhân bị bệnh gì và cách mổ ra sao ?
3- Kết quả các xét nghiệm như máu, điện tâm đồ...
Sau đó các bác sĩ gây mê sẽ chọn cho bệnh nhân một loại gây tê hay mê thích hợp. Khi gây mê các bác sĩ theo dõi sát các thông số sinh tồn của bệnh nhân như huyết áp, nhịp tim, và tránh mọi hệ quả thứ phát khác.
SỞ Y TẾ KHÁNH HÒA
BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC NINH HÒA
----------------------
CAO HUYẾT ÁP VÀ TẦM SOÁT Ở CỘNG ĐỒNG
(Ban hành kèm theo Quyết định số…/QD-BVNH ngày…tháng…năm 2017)
1. Định nghĩa
Tăng huyết áp là một tình trạng phổ biến, trong đó áp lực của máu đối với thành động mạch đủ cao, và cuối cùng có thể gây ra vấn đề sức khỏe, chẳng hạn như bệnh tim.
Huyết áp được xác định bằng số lượng máu tim bơm và số lượng đề kháng lực với dòng chảy của máu trong động mạch. Tim bơm nhiều máu hơn và động mạch hẹp, huyết áp sẽ cao hơn.
Có thể bị tăng huyết áp trong nhiều năm mà không có bất kỳ triệu chứng. Không kiểm soát được huyết áp cao sẽ tăng nguy cơ các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, bao gồm cơn đau tim và đột quỵ.
Tăng huyết áp thường phát triển trong nhiều năm, và cuối cùng ảnh hưởng đến gần như tất cả mọi cơ quan.
Tăng huyết áp có thể dễ dàng phát hiện. Và khi biết bị huyết áp cao, có thể làm việc với bác sĩ để kiểm soát nó.
2. Triệu chứng
Hầu hết những người bị tăng huyết áp không có dấu hiệu hoặc triệu chứng, ngay cả khi huyết áp ở mức nguy hiểm cao.
Mặc dù một vài người với giai đoạn đầu tăng huyết áp có thể có đau đầu âm ỉ, chóng mặt hoặc một vài chảy máu cam nhiều hơn bình thường, các dấu hiệu và triệu chứng thường không xuất hiện cho đến khi tắng huyết áp đã gây tình trạng nghiêm trọng, thậm chí đe dọa tính mạng .
Hãy kiểm tra huyết áp ít nhất mỗi hai năm bắt đầu từ tuổi 20. Có thể sẽ khuyên nên đo thường xuyên hơn nếu đã được chẩn đoán là bị tăng huyết áp hoặc các yếu tố nguy cơ khác của bệnh tim mạch. Trẻ em 3 tuổi trở lên thường đo huyết áp là một phần của kiểm tra hàng năm.
Có thể được một tầm soát huyết áp miễn phí từ nguồn lực y tế khác trong cộng đồng. Cũng có thể tìm máy để đo huyết áp, nhưng những máy này có thể cho kết quả không chính xác.
3. Nguyên nhân: Có hai loại huyết áp cao.
Tăng huyết áp tiên phát (vô căn)
Đối với hầu hết người lớn, không có nguyên nhân nhận dạng của tăng huyết áp. Đây là loại huyết áp cao, gọi là tăng huyết áp tiên phát có xu hướng phát triển dần dần qua nhiều năm.
Tăng huyết áp thứ phát
Một số người có huyết áp cao gây ra bởi một vấn đề cơ bản. Đây là loại huyết áp cao, gọi là tăng huyết áp thứ phát, có xu hướng xuất hiện bất ngờ và gây ra huyết áp cao hơn so với tăng huyết áp thông thường. Điều kiện khác dẫn đến tăng huyết áp thứ phát, bao gồm:
Vấn đề về thận.
Các khối u tuyến thượng thận.
Một số khiếm khuyết trong các mạch máu (bẩm sinh).
Một số thuốc như thuốc tránh thai, thuốc trị cảm lạnh, thuốc thông mũi, thuốc giảm đau toa và một số loại thuốc theo toa.
Các loại thuốc bất hợp pháp, chẳng hạn như cocaine và thuốc kích thích
Yếu tố nguy cơ
Huyết áp cao có nhiều yếu tố nguy cơ, bao gồm:
Tuổi. Nguy cơ gia tăng áp lực máu theo độ tuổi. Qua tuổi trung niên, tăng huyết áp phổ biến hơn ở nam giới. Phụ nữ có nhiều khả năng phát triển bệnh tăng huyết áp sau khi mãn kinh.
Chủng tộc. Tăng huyết áp đặc biệt phổ biến ở người da đen, thường phát triển ở độ tuổi sớm hơn ở người da trắng.
Biến chứng nghiêm trọng, chẳng hạn như đột quỵ và đau tim cũng phổ biến .
Lịch sử gia đình. Tăng huyết áp có xu hướng truyền thống trong gia đình.
Thừa cân hoặc béo phì. Càng nặng vượt quá, cần phải cung cấp oxy và chất dinh dưỡng đến các mô nhiều hơn.
Không vận động. Những người không hoạt động thường có nhịp tim cao hơn. Tỷ lệ nhịp tim cao hơn, tim phải làm việc khó hơn với từng cơn co và lực mạnh hơn để bơm máu vào các động mạch.
Sử dụng thuốc lá. Không chỉ hút thuốc hoặc nhai thuốc lá ngay lập tức làm tăng huyết áp tạm thời, mà các hóa chất trong thuốc lá có thể làm tổn thương niêm mạc của thành động mạch.
Quá nhiều muối (sodium) trong chế độ ăn uống. Quá nhiều natri trong chế độ ăn uống có thể làm cơ thể giữ lại chất dịch, làm tăng huyết áp.
Quá ít kali trong chế độ ăn uống. Kali giúp cân bằng lượng natri trong tế bào.
Quá ít vitamin D trong chế độ ăn. Không chắc chắn nếu có quá ít vitamin D trong chế độ ăn uống có thể dẫn tới huyết áp cao.
Uống quá nhiều rượu. Theo thời gian, uống nhiều rượu có thể gây hại tim. Nhiều hơn hai hoặc ba ly trong một ngày cũng có thể tạm thời làm tăng huyết áp,
Căng thẳng. Mức độ căng thẳng cao có thể dẫn đến gia tăng kịch phát tạm thời huyết áp. Nếu cố gắng để thư giãn bằng cách ăn nhiều hơn, sử dụng thuốc lá, uống rượu, chỉ có thể làm tăng các vấn đề với huyết áp cao.
Một số bệnh mãn tính. Một số vấn đề mãn tính cũng có thể làm tăng nguy cơ huyết áp cao, bao gồm cholesterol cao, tiểu đường, bệnh thận và ngưng thở khi ngủ.
Đôi khi mang thai góp phần làm tăng huyết áp.
Mặc dù bệnh tăng huyết áp thường gặp nhất ở người lớn, trẻ em cũng có nguy cơ. Đối với một số trẻ em, huyết áp cao là do vấn đề với thận hoặc tim. Nhưng đối với một số lượng lớn các trẻ em, thói quen lối sống của người nghèo, như là một chế độ ăn uống không lành mạnh và thiếu tập thể dục - góp phần tăng huyết áp.
Các biến chứng
Không kiểm soát được huyết áp cao có thể dẫn đến:
Đau tim hoặc đột quỵ. Huyết áp cao có thể gây ra xơ cứng và dày thành các động mạch (xơ vữa động mạch), có thể dẫn đến một cơn đau tim, đột quỵ hoặc các biến chứng.
Phình mạch. Tăng huyết áp có thể gây ra các mạch máu suy yếu và lồi ra, tạo thành phình mạch.
Suy tim. Để bơm máu chống lại các áp lực cao hơn trong mạch, cơ tim dày lên. Cuối cùng có thể dẫn đến suy tim.
Suy thận và thu hẹp các mạch máu trong thận.
Các mạch máu trong mắt dày lên, bị hẹp hay bị rách. Điều này có thể dẫn đến mất thị lực.
Rối loạn trao đổi chất của cơ thể bao gồm chu vi vòng bụng tăng lên, chất béo trung tính cao, lipoprotein mật độ cao thấp (HDL), cholesterol, huyết áp và mức insulin cao.
Rắc rối với bộ nhớ hoặc hiểu biết. Không kiểm soát được tăng huyết áp cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng suy nghĩ, ghi nhớ và học hỏi.
Phương pháp dự phòng và điều trị .
Đo huyết áp ở nhà
Một cách quan trọng để kiểm tra xem điều trị huyết áp có hiệu quả, hoặc tăng huyết áp trầm trọng hơn, là theo dõi huyết áp tại nhà. Theo dõi áp lực máu được phổ biến rộng rãi, và không cần toa cho mua máy đo. Nói chuyện với bác sĩ về cách để bắt đầu.
Dùng thuốc.
Mục tiêu điều trị huyết áp phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể.
Mục tiêu điều trị
|
140/90 mm Hg hoặc thấp hơn
|
Nếu là người lớn khỏe mạnh
|
130/80 mm Hg hoặc thấp hơn
|
Nếu có bệnh thận mãn tính, bệnh tiểu đường hoặc bệnh động mạch vành hoặc có nguy cơ cao mắc bệnh động mạch vành
|
120/80 mm Hg hoặc thấp hơn
|
Nếu có rối loạn chức năng tâm thất trái hay suy tim, hoặc có bệnh thận mạn tính nặng
|
Thay đổi lối sống để điều trị tăng huyết áp
Ngoài việc bác sĩ kê toa thuốc để điều trị tăng huyết áp, sẽ cần phải thay đổi lối sống để giảm huyết áp. Những thay đổi này thường bao gồm chế độ ăn uống lành mạnh với ít muối, tập thể dục nhiều hơn, bỏ hút thuốc và giảm cân.
Chống tăng huyết áp khi huyết áp khó kiểm soát.
Thay đổi lối sống có thể hướng tới việc kiểm soát tăng huyết áp. Nhưng đôi khi thay đổi lối sống là không đủ.
Ngoài chế độ ăn uống và tập thể dục, bác ,khuyên nên dùng thuốc hạ huyết áp.
Nếu không dùng thuốc tăng huyết áp theo chỉ dẫn chính xác, có thể phải trả giá. Nếu bỏ qua liều bởi vì không có khả năng, bởi vì có tác dụng phụ hoặc đơn giản chỉ vì quên uống thuốc, hãy nói chuyện với bác sĩ về các giải pháp. Không thay đổi điều trị mà không có hướng dẫn của bác sĩ.
Phong cách sống và biện pháp khắc phục
Thay đổi lối sống có thể giúp kiểm soát và ngăn ngừa huyết áp cao, ngay cả khi đang dùng thuốc huyết áp. Đây là những gì có thể làm:
Ăn thực phẩm lành mạnh. Hãy thử các phương pháp tiếp cận chế độ ăn uống cho tăng huyết áp. Tăng huyết áp, trong đó nhấn mạnh trái cây, rau, ngũ cốc và thực phẩm từ sữa ít chất béo. Nhận được rất nhiều kali, giúp có thể ngăn ngừa và kiểm soát huyết áp cao. Ăn ít chất béo bão hòa.
Giảm muối trong chế độ ăn uống. Mặc dù 2.400 milligrams (mg) natri một ngày là giới hạn cho người lớn khỏe mạnh, hạn chế lượng natri đến 1.500 mg / ngày sẽ có một hiệu ứng ấn tượng hơn trên huyết áp. Trong khi có thể làm giảm lượng muối ăn bằng cách hạ bớt muối thêm vào, cũng nên chú ý đến lượng muối có trong các loại thực phẩm chế biến, như súp đóng hộp hoặc đông lạnh.
Duy trì trọng lượng khỏe mạnh. Nếu đang thừa cân, thậm chí giảm 2,3 kg có thể hạ thấp huyết áp .
Tăng hoạt động thể chất. Thường xuyên hoạt động thể chất có thể giúp giảm huyết áp và giữ cho cân nặng dưới sự kiểm soát. Phấn đấu ít nhất 30 phút hoạt động thể chất mỗi ngày.
Hạn chế uống rượu. Ngay cả khi đang khỏe mạnh, rượu có thể làm tăng huyết áp. Nếu uống rượu, vừa phải - đến một ly một ngày cho phụ nữ và tất cả mọi người trên 65 tuổi, và hai ly một ngày đối với nam giới.
Không hút thuốc. Thuốc lá làm tổn thương thành mạch máu và tăng tốc quá trình xơ cứng động mạch. Nếu hút thuốc, hãy hỏi bác sĩ để giúp bỏ thuốc lá.
Quản lý căng thẳng. Giảm căng thẳng càng nhiều càng tốt. Thực hành kỹ thuật lành mạnh để đối phó, chẳng hạn như thư giãn cơ bắp và hít thở sâu. Nhận được rất nhiều giấc ngủ có thể giúp đỡ.
Theo dõi huyết áp ở nhà. Nếu thuốc phù hợp và thậm chí cảnh báo và để biết tiềm năng. Nếu huyết áp được kiểm soát khi theo dõi huyết áp tại nhà, có thể ít gặp bác sĩ.
Tập thư giãn hoặc thở sâu chậm. Thực hành thở sâu, chậm để giúp thư giãn. Có một số thiết bị sẵn có thể giúp hướng dẫn hơi thở để thư giãn.
Thay thế thuốc
Mặc dù chế độ ăn uống và tập thể dục là những chiến thuật tốt nhất để giảm huyết áp, một số chất bổ sung cũng có thể giúp làm giảm huyết áp. Chúng bao gồm:
Alpha-linolenic acid (ALA).
Canxi.
Ca cao.
Dầu gan cá tuyết.
Coenzyme Q10.
Omega - 3 fatty acid.
Tỏi.
Cũng có thể thực hành các kỹ thuật thư giãn, chẳng hạn như yoga hay hít thở sâu, giúp thư giãn và giảm mức độ căng thẳng. Những thực hành có thể tạm thời làm giảm huyết áp.
Đối phó và hỗ trợ
Huyết áp cao không phải là một vấn đề có thể điều trị và sau đó bỏ qua. Đó là một điều kiện cần để quản lý cho phần còn lại của cuộc đời. Để giữ cho huyết áp kiểm soát:
Uống thuốc đúng cách. Nếu tác dụng phụ hoặc chi phí gây ra vấn đề, không ngừng dùng thuốc. Hãy hỏi bác sĩ về các tùy chọn khác.
Lịch trình gặp bác sĩ. Phải nỗ lực để điều trị huyết áp thành công cao. Bác sĩ không thể làm điều đó một mình. Làm việc với bác sĩ để mang huyết áp đến mức độ an toàn và giữ nó ở đó.
Thông qua những thói quen lành mạnh. Ăn thức ăn lành mạnh, giảm cân quá mức và thường xuyên hoạt động thể chất. Hạn chế uống rượu. Nếu hút thuốc, bỏ thuốc lá.
Quản lý căng thẳng. Nói không với nhiệm vụ bổ sung, suy nghĩ tiêu cực, duy trì mối quan hệ tốt, kiên nhẫn và lạc quan.
Gắn bó với thay đổi lối sống có thể khó khăn, đặc biệt là nếu không nhìn thấy hoặc cảm thấy bất cứ triệu chứng của tăng huyết áp. .
SỞ Y TẾ KHÁNH HÒA
BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC NINH HÒA
---------------------------
NHỮNG ĐIỀU CẦN CHÚ Ý TRƯỚC VÀ SAU CUỘC MỔ
(Ban hành kèm theo Quyết định số…/QD-BVNH ngày…tháng… năm…2017)
1. Trước khi gây mê người bệnh cần phải làm gì?
Người bác sĩ gây mê sẽ giải thích cho bệnh nhân nghe những gì sẽ xảy ra trong khi mổ và sau khi mổ. Bác sĩ sẽ dặn bệnh nhân khi nào sẽ nhịn ăn, uống trước khi được phẫu thuật. Nếu bệnh nhân còn dùng thuốc để chữa bệnh gì khác thì cần báo bác sĩ biết để bác sĩ định đoạt có nên tiếp tục uống trước khi mổ hay những ngày sau mổ.
Bệnh nhân phải ký giấy thỏa thuận chấp nhận trước khi được gây mê. Bác sĩ sẽ cho bệnh nhân biết cách chọn lựa gây mê nào tốt nhất cho mình và những rủi ro, những tiện ích và cả những vấn đề khác.
Một số lưu ý:
- Trước khi được gây mê, bệnh nhân không được ăn ít nhất 6 giờ trước mổ vì đồ ăn cần 8 giờ để đi từ dạ dày đến hết ruột non và qua đại tràng. Nếu bệnh nhân được mổ sáng ngày hôm sau thì phải nhịn ăn, uống, trể nhất là lúc 21 giờ đêm hôm trước. Sáng hôm sau hoàn toàn không ăn uống.
- Nếu bệnh nhân được mổ bụng thì ngày hôm trước được súc ruột để làm sạch bụng và nhẹ bụng sau mổ, giúp nhanh trung tiện hơn.
- Nếu bệnh nhân được mổ đại tràng thì thường súc ruột trước mổ. Cần phải nhịn uống ít nhất 2 giờ trước mổ các chất nước uống. Cần nhịn ăn và uống vì trong khi gây mê hay tê bệnh nhân có thể bị nôn, ựa mà không kiểm soát được nên đồ ăn, thức uống dễ hít vào cuống phổi gây ngạt thở.
- Bệnh nhân cũng nên giữ cho mình không quá mập để cải thiện lưu thông máu và giữ cho phổi hoạt động tốt hơn. Nếu quá mập, nên giảm cân để giảm nguy cơ gây mê (thuốc mê, thuốc giản cơ thường tích tụ trong mỡ).
- Bệnh nhân cũng nên ngưng hút thuốc lá 6 tuần trước mổ để phổi và tim cơ hội cải thiện tình trạng sức khỏe của mình. Chính thuốc lá làm giảm lượng oxy trong máu và làm tăng thêm những vấn đề hô hấp trong và sau mổ.
- Bệnh nhân cũng cần ngưng uống rượu 24 giờ trước mổ vì rượu làm sai lệch hiệu quả của thuốc tê, mê.
- Nếu bệnh nhân có uống thuốc tăng sảng khoái hay thuốc nghiện thì nên báo cho bác sĩ biết.
2. Khi tỉnh mê thì việc gì xảy ra?
- Ngay sau khi phẫu thuật xong, người bệnh sẽ được đưa ra phòng hồi sức. Người điều dưỡng sẽ săn sóc bệnh nhân theo sự chỉ dẫn của bác sĩ gây mê. Điều dưỡng viên sẽ theo dõi những dấu hiệu sinh tồn và theo dõi các vết băng bó và hỏi han bệnh nhân về sự đau đớn sau mổ. Và nếu bệnh nhân cảm thấy đau, đừng ngại ngùng báo cho điều dưỡng viên biết.
- Một số tác động của thuốc mê có thể kéo dài hằng giờ sau mổ. Ví dụ cảm giác tê rần ở đầu chi hay một vùng nào đó của cơ thể nếu bệnh nhân được mổ bằng gây tê tại chỗ hay gây tê vùng. Những tác động này gồm: Nôn mữa, buồn nôn; Hạ thân nhiệt gây run lạnh nhất là lúc tỉnh lại…
- Với gây tê trong mổ nhỏ, bệnh nhân có thể về nhà trong ngày. Còn trong mê toàn thân thì bệnh nhân phải nằm lại bệnh viện. Nếu có gì khó chịu, bệnh nhân nên báo cho bác sĩ biết ngay.
3. Vì sao có một số người phải gây mê thay vì gây tê?
Có thể do một số nguyên nhân sau :
- Các trẻ em vì chúng không chịu nằm yên
- Những người lớn nhưng quá lo lắng, sợ sệt, không chịu được đau, rối loạn cơ bắp. Những trường hợp này bệnh nhân không thư giãn được và không thể hợp tác với bác sị.
- Một số phẫu thuật cần một số tư thế đặc biệt nên khi tỉnh dậy bệnh nhân cảm thấy khó chịu, nhất là khi phẫu thuật kéo dài.
- Một số phẫu thuật cần giãn cơ và làm bệnh nhân không thở tự chủ được, vì thế phải hỗ trợ hô hấp.